Hướng dẫn các bài thuốc hay từ lá vối
Lá được dùng làm trà, uống nóng rất thông dụng ở nông thôn Việt Nam. Hoa nhỏ thu hái vào tháng 6, cũng được dùng pha trà uống (nụ vối) có thể so sánh với nước hãm lá Bạch đàn. Người ta cũng thường phối hợp lá Vối với lá Hoắc hương làm nước hãm uống lợi tiêu hóa. Nước sắc đậm đặc của lá cây dùng như thuốc kháng sinh, sát trùng để rửa mụn nhọt, lở loét, ghẻ. Thường dùng lá, vỏ, thân, hoa làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, ỉa chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng.
Ở Ấn Độ, rễ sắc đặc dạng xirô
dùng đắp vào các khớp sưng đỏ; quả dùng ăn trị phong thấp.
Ở Trung Quốc, các bộ phận của cây
dùng trị cảm mạo, đau đầu phát sốt, lỵ trực khuẩn, viêm gan, bệnh mẩn ngứa, viêm tuyến sữa, ngứa ngáy ngoài
da, bệnh nấm ở chân, vết thương do dao súng.
Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Vối
Chữa lở ngứa, chốc đầu:
Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy
nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.
Chữa bỏng:
Vỏ cây vối cạo bỏ vỏ thô, rửa sạch,
giã nát, hòa với nước sôi để nguội, lọc lấy nước, bôi lên khắp chỗ bỏng. Thuốc
sẽ làm giảm tiết dịch, hết phồng, dịu đau, hạn chế sự phát triển của vi trùng.
Viêm da lở ngứa:
Sắc lá vối lấy nước đặc để bôi.
Trị đau bụng đi ngoài:
Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm
quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2
lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày.
Chữa viêm đại tràng mạn tính, đau
bụng âm ỉ và thường xuyên đi phân sống:
Khoảng 200g lá vối tươi, xé nhỏ,
chế vào 2 lít nước sôi, ngâm trong 1 giờ để uống thay nước.
Chữa đầy bụng, không tiêu:
Vỏ thân cây vối 6 – 12g, sắc kỹ lấy
nước đặc uống 2 lần trong ngày. Hoặc nụ vối 10 – 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần
trong ngày.
Giảm mỡ máu:
Nụ vối 15 - 20 g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hoặc nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.

Nhận xét
Đăng nhận xét